Peirce (8.209) cho rằng một quy trình suy luận tổng quát có thể tiến hành như sau: ngoại suy đề xuất một lý thuyết; sử dụng suy diễn để suy ra từ ý tưởng lý thuyết đó một loạt các hệ quả khác nhau dẫn đến đòi hỏi thực hiện các thực nghiệm và tiến hành các thực nghiệm; nếu các dự đoán ban đầu về lý thuyết được kiểm chứng, chúng ta chắc rằng lý thuyết đề ra ban đầu là đúng.

Từ đó, sau khi ngoại suy (tạo nên các giả thuyết để giải thích một vấn đề quan sát) là suy diễn (suy luận logic để tạo ra một dãy các giả thuyết) và quy nạp (kiểm tra tính đúng đắn của các giả thuyết).

Suy luận ngoại suy là một dạng suy luận để giải thích hơn là dự đoán bởi vì các kết quả không thể biết được một cách trực tiếp. Ngoại suy giống với quy nạp ở chỗ cả hai đều liên quan đến các phát hiện. Tuy nhiên trong lúc quy nạp phát hiện ra những quy luật, khuynh hướng thì ngoại suy phát hiện ra những sự kiện mới. Quy nạp kiểm tra một giả thuyết ngoại suy thông qua các thực nghiệm và tăng mức độ thành công trong các phép thử, nghĩa là tăng mức độ tin cậy của giả thuyết.

Hình sau đây minh họa làm thế nào để cụ thể hóa các tiến trình đã được kết hợp trong một hoạt động tổng quát hóa từ việc phát hiện một quy luật R trong một vài trường hợp đặc biệt đến việc thiết lập một dạng tổng quát F như là một kết quả của việc xác nhận R và thu được một kết luận tổng quát hóa kết hợp giữa ngoại suy và quy nạp (Rivera & Becker, 2007):

Sơ đồ tổng quát hóa

Sơ đồ tổng quát hóa

Xem thêm ở bài báo “Phát triển suy luận ngoại suy thông qua các mô hình toán thao tác động điện tử”.